223 thuật ngữ. Gõ không dấu cũng ra, và tên gọi khác cũng ra.
Vùng 3 lộ × 3 tuyến ở mỗi bên bàn cờ, gồm 9 giao điểm và có hai đường chéo nối bốn góc. Tướng và Sĩ không được ra khỏi vùng này.
Tên khác: Cung · Cung Tướng
Hai giao điểm sát hai bên tâm cung. Quân đứng ở đây cắt liên lạc giữa Tượng giữa và Tượng đáy, nên nó là điểm tranh chấp trong nhiều thế tàn.
Tên khác: Yêu điểm
Hai lộ ngoài cùng (lộ 1 và lộ 9). Quân ở biên ít bị chặn nhưng cũng ít tham gia được vào trung lộ.
Tên khác: Biên · Lộ biên
Tuyến ngang cuối cùng của mỗi bên — hàng xuất phát của Xe, Mã, Tượng, Sĩ. Quân địch xuống được hàng đáy thường rất nguy hiểm vì nó cắt đường lui của Tướng.
Tên khác: Tuyến đáy · Hàng đáy
Tuyến ngang thứ ba tính từ phía mình — hàng trên cùng của cửu cung.
Tên khác: Phân tân tuyến · Tuyến đỉnh cung
Tuyến ngang thứ năm tính từ phía mình — bờ sông bên mình, ranh giới giữa đất hai bên. Quân đứng trên đó gọi là tuần hà.
Tên khác: Hà giới · Tuyến hà · Đường sông · Hà
Hai lộ 4 và 6 — nơi hai Sĩ đứng lúc đầu ván. Gọi là sườn vì kẹp hai bên cung Tướng; đây là đường công thủ then chốt, Xe chiếm được đường sườn thường tạo áp lực trực tiếp lên cung.
Tên khác: Lặc đạo · Đường hở · Lộ sườn · Đường sườn Cửu cung
Tuyến ngang thứ tư tính từ phía mình — hàng đặt Tốt lúc bắt đầu ván.
Tên khác: Tốt lâm tuyến · Tuyến tốt · Hàng Tốt · Tốt lâm
Đường dọc trên bàn cờ. Có 9 lộ, đánh số 1–9 theo hướng nhìn của mỗi bên — nên cùng một cột có hai tên gọi khác nhau tuỳ bên Đỏ hay bên Đen.
Tên khác: Đường dọc
Tuyến ngang thứ hai tính từ phía mình, ngay trên hàng đáy.
Tên khác: Hạ nhị lộ · Hàng hai · Tuyến áp đáy
Giao điểm nằm GIỮA đường đi của một nước Tượng — tâm của ô vuông 2×2 mà Tượng băng qua. Mỗi nước Tượng có một mắt riêng; quân nào chiếm mắt theo hướng nào thì Tượng bị cản đúng hướng đó, các hướng còn lại vẫn đi được.
Tên khác: Điểm chân tượng
Giao điểm chính giữa cửu cung. Quân địch chiếm được điểm này thì Tướng và Sĩ gần như đứng im, nên nó vừa là chỗ hiểm vừa là chỗ quân mình dễ bị kẹt.
Tên khác: Mắt sĩ · Hoa tâm · Giữa cung
Lộ số 5, cột chính giữa bàn cờ, đi thẳng vào Tướng. Đây là trục tấn công quan trọng nhất — Pháo đầu, Tốt giữa và Xe trung lộ đều nhắm vào đây.
Tên khác: Đường giữa · Lộ 5
Đường ngang trên bàn cờ, đếm từ dưới lên theo phía mình. Cả bàn có 10 tuyến.
Tên khác: Đường ngang · Hàng
Đi quân tới vị trí quân đối phương và nhấc quân đối phương bỏ ra khỏi bàn cờ.
Tên khác: Bắt quân
Thế trận dùng hai Mã bảo vệ Tốt đầu, phối hợp với Pháo, Sĩ, Tượng tạo thành tuyến phòng thủ vững chắc cho cung Tướng.
Tên khác: Bình phong · Bình phong mã cổ điển · Bình phong mã hiện đại · Mã bình phong · Mã bảo vệ trung tâm
Quân của một bên nhằm vào Tướng của đối phương để bắt thì gọi đó là nước chiếu Tướng. Tướng bị chiếu phải chạy hoặc dùng quân khác che.
Tên khác: Chiếu · Chiếu bí · Sát tướng
Thế trận phòng thủ trong đó chỉ có một mã giữ tốt đầu, mã còn lại nhảy ra biên hoặc vị trí khác.
Tên khác: Đơn đề · Mã ra biên · Hữu đơn đề mã · Tả đơn đề mã
Cách di chuyển quân cờ theo chiều ngang bàn cờ.
Nước đi đầu tiên nhảy Mã lên lộ 3 hoặc lộ 7 để chuẩn bị trận thế.
Tên khác: Khởi Mã Đối Tiến Chốt
Dùng quân mình trực tiếp làm cho một hay vài quân đối phương không hành động được.
Tên khác: Giam quân
Hai quân pháo của hai bên đi ngược chiều nhau, tạo thế trận đối công quyết liệt.
Tên khác: Giao thủ Pháo
Đòn đánh khi một bên ưu thế tìm cách đưa Pháo xuống hàng đáy đối phương phối hợp với Xe tiêu diệt Tướng.
Đỏ Pháo đầu, đen cũng lên Pháo đầu đối xứng (hai Pháo đối diện nhau) – tạo thế trận cân bằng đối xứng.
Tên khác: Nghịch pháo
Thế trận tấn công gồm một Pháo trung tâm và một Pháo ở lộ 8.
Thế trận tấn công gồm một Pháo trung tâm và một Pháo ở lộ biên (số 9).
Hệ thống tấn công sử dụng một quân Pháo ở trung lộ (số 5) và một quân Pháo ở lộ 6.
Tên khác: Pháo vào cột 5 và cột 6
Thế trận tấn công gồm một Pháo trung tâm và một Pháo ở lộ 7.
Biến thể: đen triển khai Liệt Pháo chậm một nhịp (lên Pháo sau vài nước).
Tên khác: Nửa Đường Liệt Pháo
Một thế trận phòng thủ nổi tiếng trong cờ tướng, thường dùng để đối phó với Trung Pháo. Đặc điểm là hai quân Mã quỳ bảo vệ nhau thông qua quân Sĩ hoặc Chốt.
Tên khác: Bán bích hà sơn · Hiếp pháo bình phong · Phản cung
Tượng trưng cho hỏa lực tầm xa, đi ngang dọc như xe nhưng khi ăn quân phải có một quân khác làm ngòi ở giữa.
Tên khác: Pháo giăng · Pháo binh
Các nước đi mang tính cạm bẫy, gây bất ngờ để giành ưu thế hoặc dứt điểm ván cờ.
Tên khác: Cạm bẫy
Khai cuộc bằng cách đưa quân Tượng lên biên hoặc trung tâm ngay từ những nước đi đầu tiên để củng cố phòng thủ.
Tên khác: Lên Tượng
Quân cờ di chuyển đi ngang qua cung Tướng và nằm ở góc cung.
Lối khai cuộc lùi pháo về vị trí thấp để bảo vệ hoặc chuẩn bị các đòn tấn công bất ngờ từ tuyến sau.
Tên khác: Pháo lưng rùa · Cưỡi rùa
Những nước đi hiểm hóc, bất ngờ buộc đối thủ rơi vào thế lâm nguy hoặc thua trận ngay lập tức.
Tên khác: Đòn bắt Tướng · Đòn sát thủ · Tuyệt sát · Tuyệt chiêu · Phản đòn
Nước đi làm cho Tướng đối phương bị chiếu mà không còn đường thoát, dẫn đến kết thúc ván cờ.
Tên khác: Chiếu hết · Dứt điểm
Lối cờ khai cuộc khi cả hai bên cùng vào Pháo thuận tay, cùng một bên bàn cờ.
Người được quyền đi nước cờ đầu tiên trong ván đấu, nắm quyền chủ động điều phối trận hình.
Cách di chuyển quân cờ theo chiều dọc bàn cờ.
Quân phòng thủ, di chuyển chéo 2 ô (hình điền). Trong cờ tướng truyền thống không được qua sông, nhưng cờ úp có thể qua sông tấn công.
Tên khác: Bồ · Tịnh · Voi · Tượng chiến
Quân cờ quan trọng nhất, tượng trưng cho thiên tử hoặc thống soái, không được ra khỏi cung và hai tướng không được nhìn mặt nhau.
Tên khác: Soái · Ông Vua · Lão Soái · Lão Tướng
Đỏ phát triển Mã biên (Mã ngoài) ngay – khai cuộc tạo thế tấn công cánh nhanh.
Hai bên cùng tiến tốt (Binh đối Binh) đối xứng – khai cuộc cân bằng chờ thời.
Tên khác: Đối binh cục
Đỏ khởi Mã (phát triển Mã biên hoặc trung lộ ngay từ nước đầu).
Đỏ bay Tượng ngay (khai cuộc phòng thủ linh hoạt, tránh giao tranh sớm).
Tên khác: Phi tượng cục
Đỏ Phi Tượng vs đen Quá cung Pháo (Pháo vượt cung sang trận bên kia).
Đỏ Phi Tượng vs đen Sĩ Giác Pháo (Pháo góc Sĩ/pháo biên).
Đỏ Phi Tượng vs đen Trung Pháo (đen Pháo đầu đánh thẳng vào trận đỏ).
Đỏ dùng Quá cung Pháo – Pháo vượt qua trung lộ sang bên kia cung để tấn công trực tiếp.
Tên khác: Pháo quá cung
Đỏ đưa Pháo lên vị trí góc Sĩ (pháo góc) để tấn công cánh đối phương.
Hai bên đều ra Pháo cùng phía (Pháo thuận) – thế trận tấn công trực diện và đối công quyết liệt.
Biến thể Thuận Pháo: bên đi tiên triển khai Xe ngay (trực Xa), bên hậu chậm phát Xe.
Biến thể Thuận Pháo: bên tiên Xe thẳng vs bên hậu Xe ngang (phát triển Xe khác hướng).
Đỏ tiến tốt đầu (Binh 3 hoặc 7 lên 1 bước) – khai cuộc linh hoạt nhất, vừa mở đường Mã vừa thăm dò.
Đen đối phó Tiên Nhân Chỉ Lộ bằng nước Pháo dưới tốt (đưa Pháo ra đường tốt biên để phản công).
Tên khác: Pháo đáy Tốt
Pháo đầu vào trung lộ ngay từ đầu – khai cuộc tấn công phổ biến nhất.
Tên khác: Pháo đầu · Đương Đầu Pháo
Pháo đầu đỏ vs đen phòng thủ Bình Phong Mã (song Mã lên giữ trung lộ) – thế trận công thủ cổ điển.
Tên khác: Pháo đầu đối Bình phong Mã
Pháo đầu đỏ vs đen Đơn đề Mã – đen chỉ phát triển một Mã lên cao để chống Pháo đầu.
Tên khác: Pháo đầu đối Đơn đề Mã
Pháo đầu đỏ vs đen Phản Cung Mã – một kiểu đưa Mã vào vị trí “phản cung” để phòng thủ trung lộ.
Pháo đầu đỏ vs đen Tam bộ hổ – đen lên Xe nhanh (3 bước) tạo “hổ” phòng thủ/phản công.
“Đại đao ngoáy tim”: Xe đỏ chém (ăn) Sĩ trung tâm của đối thủ, phá vỡ hoàn toàn hệ thống phòng thủ Sĩ Tượng, tạo điều kiện chiếu bí.
Tên khác: Đại đảm xuyên tâm · Xuyên tâm
“Mò trăng đáy biển”: Thế cờ tàn Xe-Pháo vs Xe: dùng chính Tướng mình làm “bàn đạp” cho Pháo đuổi bắt Xe phòng thủ của đối phương.
“Mã hậu Pháo”: Mã khống chế đường thoát của Tướng, Pháo từ phía sau Mã chiếu bí. Sát pháp kinh điển nhất trong cờ tướng.
Thế Pháo “môn cung”: Tướng đối phương bị quân mình cản đường, bị Pháo chiếu bí trực diện không thể thoát (chiếu bí trong cung hẹp).
Tên khác: Môn cung · Môn sát · Muộn sát · Ngột sát
Mã ngọa tào: Mã đứng ở vị trí “ngọa tào” (lộ 3 hoặc 7, hàng 3 phía đối phương) – vị trí tấn công kinh điển để chiếu bí Tướng.
Tên khác: Mã ngọa tào · Ngọa tào
“Hai quỷ gõ cửa”: Hai Tốt (Binh) xâm nhập hàng 4 (vào hai lộ 4 và 6) áp sát cung như hai “con quỷ”, dọa ăn Sĩ trung tâm – nếu đối phương không đỡ kịp sẽ bị chiếu bí ngay.
Tên khác: Nhị quỷ bá môn
Hai Mã uống suối: Hai Mã phối hợp chiếu bí luân phiên – một Mã ở vị trí ngọa tào, Mã kia hỗ trợ tấn công khiến Tướng không có đường thoát.
Pháo “Trời-Đất”: một Pháo khống chế đường trên (trung lộ), Pháo kia khống chế hàng đáy – phối hợp chiếu bí từ trên xuống dưới.
Thế “then cửa sắt”: Pháo khống chế trung lộ ghim Sĩ/Tượng đối phương, sau đó Xe hoặc Tốt tận dụng chiếu bí từ đáy cung.
Tên khác: Thiết Môn Soan · Then cửa sắt
Song Pháo xếp chồng: một Pháo làm ngòi (bàn đạp), Pháo thứ hai chiếu bí từ phía sau (đối phương không có cách cản).
Tên khác: Trọng Pháo · Pháo chồng · Pháo trùng
Phong tỏa: chặn đường di chuyển của quân đối phương, hoặc khóa đường thoát của Tướng.
Tên khác: Tắc nghẽn · Phong tỏa · Đổ tắc
Vừa chiếu Tướng vừa bắt một quân khác, buộc đối phương phải chọn: đỡ chiếu thì mất quân.
Tên khác: Chiếu tướng bắt Xe · Chiếu tướng bắt Mã · Tướng quân trừu tử
Khai thông: di chuyển quân mình để mở đường (ô, hàng, hoặc đường chéo) cho quân khác tấn công hiệu quả hơn.
Tên khác: Đằng na · Nhường lộ · Khai thông
Dẫn dụ: Nhử quân đối phương đến vị trí bất lợi, sau đó khai thác điểm yếu đó.
Tên khác: Dụ quân · Dẫn dụ · Dẫn nhập
Điều hổ ly sơn: buộc quân phòng thủ rời khỏi vị trí trọng yếu, mở ra điểm yếu cho đối phương.
Tên khác: Dẫn ly · Điệu hổ ly sơn · Ăn quân phòng thủ
Đòn phát hiện: Di chuyển một quân để lộ đường tấn công bất ngờ cho quân phía sau (như Mã hoặc Pháo). Rất phổ biến trong cờ tướng (nhờ đặc tính Pháo cần ngòi, Mã bị chặn).
Tên khác: Đòn lộ · Thiểm kích · Tấn công mở
Chiếu phát hiện: Di chuyển quân tạo đường cho quân phía sau chiếu Tướng (đòn chiếu bất ngờ).
Tên khác: Chiếu lộ · Thiểm tướng · Chiếu rút · Chiếu mở
Trao đổi quân nhằm đơn giản hóa thế cờ hoặc chuyển về tàn cuộc có lợi.
Tên khác: Đoái tử
Ăn được quân của đối phương mà không phải trả lại tương xứng, nhờ đó hơn quân.
Tên khác: Đắc tử
Một nước tấn công đồng thời hai quân đối phương (một đòn song công cơ bản).
Tên khác: Tróc song · Song công · Bắt hai
Vừa gỡ được đòn sát của đối phương, vừa lập tức tạo đòn sát ngược lại.
Tên khác: Gỡ sát phản sát
Quân không được bảo vệ (hoặc bảo vệ không đủ) – một “quân treo” có thể bị ăn miễn phí.
Tên khác: Quân không gốc · Vô căn tử
Ngăn chặn: đưa quân vào cắt đứt liên kết giữa các quân đối phương (ví dụ chặn đường tiếp viện hoặc bảo vệ).
Tên khác: Cắt đứt · Lan chặn · Chặn liên lạc · Cắt ngòi
Chen một nước doạ — thường là doạ chiếu bí — trước khi ra đòn chính, buộc đối phương phải đỡ bị động và đứng vào ô bất lợi, rồi mới thực hiện ý đồ ban đầu. Mục đích là giành tiên thủ và tạo điều kiện thuận lợi cho nước sau, không phải tấn công trực tiếp.
Tên khác: Nước chen · Đốn thốc · Nước độn · Độn toán · Đốn tỏa
Dùng chính Tướng nhà làm chỗ dựa cho quân tấn công — nhờ luật hai Tướng không được đối mặt, Tướng khống chế được trung lộ dù đứng yên.
Tên khác: Tá soái lực · Mượn lực Tướng
Một quân phòng thủ phải bảo vệ quá nhiều mục tiêu cùng lúc, dẫn đến không thể bảo vệ hết được.
Tên khác: Siêu tải · Overloading
Ghim giữ một quân không thể di chuyển, vì sẽ để lộ quân quan trọng hơn phía sau. Trong cờ tướng, Pháo có thể ghim hai quân cùng lúc; Tướng đối mặt cũng tạo thế ghim đặc biệt.
Tên khác: Kiềm chế · Ghim
Nước đi tĩnh (không chiếu, không bắt quân) nhưng chuẩn bị mối đe dọa mạnh ở nước sau.
Tên khác: Nước chờ · Đình trước · Nước dừng · Quiet move
Hy sinh quân để đổi lợi thế chiến thuật hoặc vị trí lớn hơn (ví dụ: thí quân giành tiên hoặc để chiếu bí).
Tên khác: Khí tử · Phế quân · Thí Tốt
Tấn công xuyên: chiếu hoặc dọa bắt quân giá trị cao buộc phải tránh, để lộ mục tiêu phía sau (ngược lại với ghim).
Tên khác: Xiên · Xuyên quân · Xuyên đả · Đòn xiên
Quân của đối phương bị vây hãm, di chuyển hạn chế và không thể thoát khỏi việc bị bắt.
Tên khác: Khốn tử · Vây bắt
Đặt đối thủ vào thế phải đi và mọi nước đi đều làm tình hình tệ hơn. (Trong cờ tướng, hết nước đi hợp lệ là thua ngay – bức tử).
Tên khác: Ép phải đi · Khốn tỷ · Khốn bí · Khốn bế · Cưỡng nước · Zugzwang
Giai đoạn cuối với ít quân còn lại, tập trung chuyển hóa ưu thế hoặc cố gắng thủ hòa.
Tên khác: Cờ tàn
Giai đoạn giữa khi cuộc chiến bắt đầu, các quân giao chiến và triển khai chiến thuật.
Giai đoạn đầu ván cờ (thường ~10 nước đầu), tập trung phát triển quân và thiết lập trận hình.
Mỗi nước đi là đi thẳng một ô rồi đi tiếp chéo một ô.
Mỗi nước đi chỉ đi một ô theo đường chéo, và không được ra khỏi cung Tướng.
Tên khác: Sỹ
Quân cờ đi từng bước một. Trước khi qua sông chỉ đi thẳng, sau khi qua sông có thể đi ngang.
Tên khác: Binh · Chốt · Tốt/Chốt · Tốt/Binh
Lực lượng tinh nhuệ nhất, cơ động nhanh, có thể đi ngang dọc khắp bàn cờ nếu không bị cản.
Tên khác: Xa · Xe/Xa
Tướng đối mặt: Lợi dụng luật hai Tướng không được đối diện – mở đường để Tướng mình “chiếu” Tướng địch (Tướng địch bị hạn chế di chuyển).
Tên khác: Đối Diện Tiếu · Cười trực diện
“Ngựa trắng hiện móng”: Hy sinh Xe hoặc Tốt để dụ Sĩ đối phương xuống, mở đường cho Mã quải giác nhảy vào chiếu bí.
Mã bát giác: Mã khống chế Tướng theo đường chéo 45°, hạn chế đường chạy của Tướng, phối hợp với quân khác tạo lưới bắt.
Mã bật lò xo: Mã phối hợp hỗ trợ quân khác tấn công – ví dụ bật ra để Xe/Pháo chiếu, rồi Mã lại bật về chiếu bí (mẫu đòn hiếm).
“Mũ bình thiên”: Thế Pháo trần (Pháo rỗng) cùng đường với Tướng địch, kết hợp quân khác khống chế hàng nhị (hàng 2) – tạo thế chiếu bí không thể chống.
Mã cao điếu / Hổ bên sườn: Mã đứng ở hàng 5 phía đối phương khống chế ngang tầm di chuyển của Tướng – hình thành thế “hổ vờn mồi” rất nguy hiểm.
Tên khác: Sách Diện Hổ · Trắc diện hổ
Mã “câu cá”: Mã đứng ở lộ 3 (hoặc 7), hàng 4 phía đối phương, tạo thế “móc câu” dụ Tướng hoặc phối hợp bắt Sĩ.
Pháo kẹp Xe: Hai Pháo phối hợp kẹp một Xe đối phương ở cùng một cánh; Pháo trước chiếu, Pháo sau chặn đường – tạo thế chiếu bí tương tự Song Xe.
“Móc vàng treo ngọc”: Mã nhảy vào vị trí “móc vàng”, buộc đối phương xuống Sĩ, sau đó Mã rút về quải giác chiếu bí (liên hoàn hai bước).
“Lão binh dò núi”: Tướng khống chế trung lộ, phối hợp với một Binh già (đã qua sông) bò xuống đáy cung chiếu bí cùng với Xe.
Xe – Mã hợp bí: Xe đứng ở vị trí “miệng Mã” (ngay trước mặt Mã mình), được Mã yểm trợ để chiếu bí Tướng.
Chuỗi nước chiếu liên tục, không cho đối phương ngơi tay, dẫn thẳng tới chiếu bí.
Tên khác: Chiếu bí liên hoàn
“Một Xe mười quân run”: Sức mạnh áp đảo của một Xe có thể làm “lạnh sống lưng” mười quân địch – ám chỉ thế chiếu bí hoặc uy lực của Xe trên một bàn cờ trống.
“Pháo nghiền cát đỏ”: Xe và Pháo phối hợp, Pháo quét ngang hàng đáy (như nghiền sa đỏ) để triệt tiêu hết quân phòng thủ, tạo thế chiếu bí.
“Phượng hoàng 3 lần gật đầu”: Xe và Binh phối hợp chiếu Tướng liên tiếp ba lần (Tướng phải chạy 3 bước) để bắt Tướng.
Mã quải giác: Mã đứng ở góc cung (vị trí của Sĩ) để chiếu bí trực tiếp Tướng (một sát cục rất lợi hại).
Sát cục có xen nước không chiếu: bên tấn công phải đi một nước chuẩn bị rồi mới chiếu hết được, nên phải tính cả nước gỡ của đối phương.
Tên khác: Cách bộ sát
Sát cục mà mọi nước của bên tấn công đều là nước chiếu, nối liền nhau cho tới khi Tướng đối phương hết đường — đối phương không có lượt nào rảnh để phản công.
Tên khác: Chiếu liên hoàn · Liên Tướng sát pháp · Sát cục chiếu liên hoàn · Liên tướng sát
“Mã sát khung”: Phối hợp nhiều quân (đặc biệt là Mã) khống chế Tướng trong khung 3×3 của cung, dồn Tướng vào góc chết để chiếu bí.
Cách phối hợp quân để chiếu hết Tướng đối phương. Mỗi sát pháp là một hình quân có tên riêng, lặp lại được ở nhiều ván khác nhau.
Tên khác: Thế sát · Cách chiếu hết
“Hai chén rượu mời”: Hy sinh một Pháo làm mồi, Pháo còn lại chiếu bí theo kiểu môn cung (Pháo áp sát Tướng bị cản bởi quân mình).
Hai quân cùng chiếu Tướng trong một nước. Không thể chặn hay ăn để gỡ cả hai, nên đối phương buộc phải chạy Tướng — nếu Tướng hết đường thì thành sát.
Tên khác: Song Chiếu Tướng · Lưỡng chiếu · Chiếu đôi
Song Xe hiếp Sĩ: Hai Xe tấn công vào hai góc cung, buộc phải thí Sĩ để đỡ, dẫn đến chiếu bí (một Xe hy sinh bắt Sĩ, Xe kia chiếu bí).
Hai Xe thay phiên chiếu Tướng từ hai hướng khác nhau, dồn Tướng địch cho tới khi hết đường chạy.
Tên khác: Song Xa Thố · Song xa sai · Hai xe đảo · Song xa thác · Hai xe liên chiếu
Thế tàn dùng ba Tốt phá vỡ phòng tuyến đủ Sĩ Tượng của đối phương.
Tên khác: Ba tiên luyện đan
“Ba quân về biên”: Ba quân (thường là Xe, Mã, Pháo) cùng tập trung tấn công một cánh biên của đối thủ để chiếu bí.
“Ba xe quấy Sĩ”: Thế phối hợp hai Xe và một Binh (hoặc một Xe hai Binh) liên tục công kích các Sĩ, buộc Sĩ di chuyển rồi chiếu bí khi Sĩ cạn kiệt.
Tốt mượn sức quân khác chiếu Tướng liên tục, đuổi Tướng địch cho tới khi chiếu bí.
Tên khác: Nguyệt hạ truy Tín · Trực đảo Hoàng Long
“Thái Sơn đè đầu”: Pháo (hoặc Xe) tiến sát cung như núi Thái Sơn, với sự hỗ trợ của quân khác, khống chế đường dọc của Tướng rồi chiếu bí.
“Bề tôi đè vua”: Tướng đối phương bị chính quân mình chặn đường (như Sĩ hoặc Tượng cản), sau đó bị quân ta chiếu bí (Tướng bị kẹt lại bởi “bề tôi”).
“Tiểu đao ngoáy tim”: Tương tự Đại đao oán tâm nhưng dùng Tốt (Binh) ăn Sĩ trung tâm – một nước rất độc để phá thủ Sĩ.
“Quỷ nhỏ ngồi ngai rồng”: Một Tốt (Binh) lọt vào trung tâm cung Tướng (“tọa Long Đình”), kết hợp với quân khác chiếu bí (Tướng bị chặn kín đường bởi Tốt này).
“Đưa phật về điện”: Tốt tiến từng bước chiếu Tướng 3 lần liền (Tam tiến Binh), buộc Tướng lùi về vị trí ban đầu trong cung và bị chiếu bí.
Tên khác: Tam Tiến Binh
Xe-Mã lạnh lùng: Xe và Mã phối hợp một loạt nước tấn công chính xác và bất ngờ để chiếu bí (thường không có nước chiếu dọa trước).
Đòn rút của cặp Xe–Pháo. Dạng điển hình: Pháo đứng sau Xe, Pháo nhảy đi ăn quân và ngay lúc đó mở đường cho Xe chiếu Tướng — đối phương không xử lý được cả hai mối đe doạ cùng lúc.
Tên khác: Xa pháo trừu sát
Một bên bị ăn hết quân, chỉ còn trơ lại Tướng.
Tên khác: Bác quang trư
Bên phòng thủ còn đủ hai Tượng nhưng chỉ còn một Sĩ.
Tên khác: Thiếu sĩ · Khuyết một sĩ
Bên phòng thủ còn đủ hai Sĩ nhưng chỉ còn một Tượng.
Tên khác: Thiếu tượng · Khuyết một tượng
Sĩ đỡ lên một trong hai góc trên của cửu cung.
Tên khác: Sĩ sừng dê
Cách gọi lực lượng phòng thủ còn hai Sĩ. Dùng trong tên các thế tàn cuộc để nói bên yếu còn bao nhiêu quân che Tướng.
Tên khác: Song sĩ
Cách gọi lực lượng phòng thủ còn hai Tượng. Tượng chắn được Pháo bắn từ xa nhưng không bịt được trung lộ sát Tướng như Sĩ.
Tên khác: Song tượng
Thế tàn cuộc thường là thua, nhưng ở thế đứng quân cụ thể này bên yếu có một cách thủ khéo để giữ hòa.
Tên khác: Hòa khéo · Xảo hòa
Thế phòng thủ mà Sĩ và Tượng đỡ lệch nhau, không cùng một hướng, nên chúng không nối được với nhau.
Bên tấn công chỉ còn một Mã, không quân lớn nào khác đi kèm.
Tên khác: Mã đơn · 1 mã
Mã & Pháo phối hợp – nổi tiếng với thế “Mã hậu Pháo” (Pháo núp sau Mã) chiếu bí kinh điển.
Bên phòng thủ chỉ còn một Sĩ. Một Sĩ lẻ không tự che kín được trung lộ nên nhiều thế tàn cuộc đổi từ hòa sang thua ở đúng chỗ này.
Tên khác: Đơn sĩ
Bên phòng thủ chỉ còn một Tượng.
Tên khác: Đơn tượng
Bên tấn công chỉ còn một Pháo, không quân lớn nào khác đi kèm. Pháo lẻ cần quân làm ngòi nên rất khó tự thắng.
Tên khác: Pháo đơn · 1 pháo
Còn đủ cả hai Sĩ và hai Tượng. Đây là mốc phòng thủ chuẩn của tàn cuộc — rất nhiều thế cờ hoà hay thua chỉ khác nhau ở chỗ này.
Tên khác: Sĩ tượng bền · Đủ sĩ tượng
Hai Mã phối hợp – ví dụ thế Liên hoàn Mã (hai Mã bảo vệ lẫn nhau, tạo thành mạng lưới bắt Tướng).
Tên khác: Hai Mã
Hai Pháo phối hợp – tạo các thế như Trùng Pháo, Thiên Địa Pháo, Song pháo hồng nướng, v.v. rất lợi hại.
Tên khác: Hai Pháo
Hai Xe phối hợp – sức mạnh áp đảo trong tàn cuộc (ví dụ: Song Xe công sát trên hai cánh).
Tên khác: Hai Xe
Tàn cuộc chủ yếu còn các quân Binh/Tốt (ví dụ: nhiều bài tập chỉ còn Tốt và quân nhỏ hỗ trợ).
Tàn cuộc mà quân chủ lực còn lại thuộc họ Mã (Mã phối hợp Sĩ Tượng hoặc Mã đấu quân nhẹ…).
Tàn cuộc chỉ còn Mã và Pháo phối hợp với nhau (không còn Xe).
Tàn cuộc với Pháo làm quân chủ lực (Pháo + quân khác, không còn Xe).
Tàn cuộc với Xe làm quân chủ lực (Xe + quân nhỏ, không còn quân nặng khác).
Tàn cuộc còn Xe và Tốt/Binh phối hợp (ví dụ: cờ tàn Xe Tốt tranh thắng hòa).
Thế tàn cuộc thường là hòa, nhưng ở thế đứng quân cụ thể này bên mạnh có một cách đi khéo để thắng.
Tên khác: Thắng khéo · Xảo thắng
Tên điển tích của thế Mã đơn bắt Sĩ: phải đi đúng một trình tự bảy nước mới bắt được Sĩ, sai thứ tự là hỏng.
Tên khác: Bảy nước thành thơ
Tướng & Tốt phối hợp – Tướng hỗ trợ Tốt chiếu hết đối phương (tận dụng luật đối mặt Tướng).
Tướng không còn Sĩ Tượng che chắn.
Tên khác: Quang Tướng · Tướng trần
Bên tấn công chỉ còn một Xe, không quân lớn nào khác đi kèm.
Tên khác: Xe đơn · 1 xe · Đơn xa
Xe & Mã phối hợp tấn công – ví dụ: Xe dùng đường thẳng hỗ trợ Mã nhảy chiếu bí.
Xe & Pháo phối hợp công sát – thường theo thế “Tiền Xa hậu Pháo” (Xe trước Pháo sau) rất uy lực.
Xe & Tốt phối hợp – Xe dẫn đường cho Tốt qua sông thâm nhập cung Tướng, hỗ trợ Tốt chiếu bí.
Đặt quân vào mắt Tượng để chặn đúng hướng bay đó của Tượng.
Tên khác: Đổ tượng nhãn
Mã bị chặn đường vì có quân đứng ngay ô kề theo hướng nó định nhảy. Đây là hạn chế cơ bản nhất của Mã: nó không nhảy qua quân được.
Tên khác: Bặt mã thoái · Chân Mã bị cản
Thế bố trí hai Pháo chồng nhau trên cùng một lộ trong quá trình dàn quân. Đây là một hình quân, chưa phải một đòn chiếu bí.
Cách ra Xe theo trục ngang: nhấc Xe lên một nước rồi đi ngang sang cánh kia.
Tên khác: Xe ngang · Hoành Xa
Quân đứng ĐÚNG trên tuyến hà phía đối phương. Khác với “qua sông” chung chung: qua sông là đã sang đất địch ở bất kỳ tuyến nào, còn kỵ hà chỉ đúng tuyến hà bên kia.
Hai Mã bảo vệ lẫn nhau — ăn con này thì con kia ăn lại, nên đối phương khó đổi quân có lợi.
Tên khác: Mã liên hoàn
Thế hai Pháo cùng đứng ở trung lộ, xếp thành đôi Pháo giữa.
Mã đứng trên bờ sông bên mình, ở lộ 3 hoặc lộ 7 — thế Mã linh hoạt, sẵn sàng nhảy sang tấn công.
Tên khác: Bàn hà mã
Mã ở lộ 1 hoặc lộ 9. Sức đột kích yếu hơn Mã chính, nhưng giúp triển khai cân bằng hai cánh và không vướng chân Tốt.
Mã đứng trên bờ sông bên mình nhưng ở lộ 2 hoặc lộ 8.
Tên khác: Hà khẩu mã
Mã nhảy vào tâm cung nhà mình — gần như luôn là điểm yếu, vì nó bịt đường Tướng và bản thân Mã ở đó rất khó thoát.
Tên khác: Oa tâm mã · Quy tâm mã · Mã chui lòng
Quân tấn công lọt được vào trong cửu cung đối phương — thường là bước cuối trước khi thành sát.
Tên khác: Mã nhập cung · Xe nhập cung · Pháo nhập cung
Giống Pháo đòn gánh nhưng hai Pháo nằm cùng một lộ DỌC, giữa có một quân làm ngòi.
Tên khác: Lộc lô pháo
Pháo ở lộ 1 hoặc lộ 9. Hay dùng để mở đường cho Xe, hoặc chuẩn bị trầm xuống hàng đáy đối phương.
Pháo ở trung lộ mà giữa nó và Tướng đối phương không còn quân nào chắn. Cấu hình này cho bên tấn công ưu thế lớn ở trung lộ và thường buộc đối phương phải lo chắn đường ngay.
Tên khác: Không đầu pháo · Pháo đầu không · Không tâm pháo · Pháo trống
Hai Pháo đứng cùng một hàng ngang, giữa có một quân (thường là Tượng) làm ngòi — hai Pháo tự bảo vệ lẫn nhau như hai đầu một đòn gánh.
Tên khác: Đảm tử pháo · Đảm can pháo
Pháo đặt ở vị trí kín, đối phương khó nhận ra tầm bắn của nó.
Tên khác: Lãnh hạng pháo
Pháo xuống hàng đáy đối phương, nhắm vào Sĩ Tượng đáy. Thường đi cùng Xe để tạo sát cục ở hàng cuối.
Tên khác: Trầm để pháo · Pháo xuống đáy
Pháo nằm ngay tâm cung nhà mình. Thường là thế bí: Pháo ở đó vướng đường của Tướng và Sĩ, nên bị coi là điểm yếu chứ không phải thế mạnh.
Tên khác: Oa tâm pháo · Pháo hoa tâm
Pháo đứng trên bờ sông bên mình — thường dùng để đuổi Xe địch và giữ nhịp, công thủ đều tiện.
Tên khác: Tuần hà pháo
Thế trận đẩy cả Tốt lộ 3 lẫn Tốt lộ 7 lên — hai mũi nhô ra như hai đầu rắn, mở đường cho hai Mã.
Tên khác: Lưỡng đầu xà
Hai Tốt đứng liền kề nhau, che chở cho nhau.
Tên khác: Huynh đệ binh · Tốt liền nhau
Tốt ở lộ 1 hoặc lộ 9. Gọi theo cột dọc Tốt đang đứng, không phụ thuộc Tốt đã qua sông hay chưa. Cùng họ với Mã biên, Pháo biên, Xe biên, Tượng biên.
Tên khác: Biên Tốt · Tốt lộ biên
Tốt đã qua sông và còn đứng từ đường tốt của đối phương trở lên.
Tốt đã xuống tới hàng đáy đối phương. Không tiến được nữa nên sức mạnh giảm hẳn, dù vẫn đi ngang được.
Tên khác: Để binh · Tốt già · Lão tốt
Hai Tốt của hai bên chưa qua sông, đứng cùng một lộ và mặt đối mặt.
Tên khác: Đối đầu binh
Tốt đứng ngay tâm cung đối phương.
Tốt ở lộ 3 hoặc lộ 7. Gọi theo cột dọc Tốt đang đứng, không phụ thuộc Tốt đã qua sông hay chưa.
Tên khác: Kính Tốt · Tốt 3 · Tốt 7 · Tốt 3-7
Tốt đã vượt sông sang đất địch. Từ lúc đó Tốt đi ngang được, nên giá trị tăng vọt so với Tốt chưa qua sông.
Tên khác: Quá hà binh · Tốt vượt sông
Tốt đã qua sông nhưng đã xuống thấp hơn đường tốt của đối phương, chưa tới hàng đáy.
Tên khác: Thấp binh · Chốt thấp
Tốt tiến sát cửu cung trên đường trung lộ — chặn ngay cổ họng thế phòng thủ.
Tên khác: Yết hầu binh
Cách ra Xe theo trục dọc: Xe từ lộ biên chuyển sang lộ 2 hoặc 8 rồi tiến thẳng lên.
Tên khác: Xe thẳng · Trực Xa
Tốt ở lộ 5 — cột chính giữa bàn cờ. Gọi theo cột dọc Tốt đang đứng, không phụ thuộc Tốt đã qua sông hay chưa.
Tên khác: Trung Kính Tốt · Tốt lộ 5 · Tốt trung lộ
Quân (thường là Xe hoặc Pháo) đứng trên bờ sông BÊN MÌNH. Vị trí công thủ đều tiện: vừa với sang được nửa sân địch, vừa còn đường lui.
Tượng ở lộ 1 hoặc lộ 9, tức là đã bay ra sát biên bàn cờ.
Tướng đứng trên đường đỉnh cung — hàng ngang trên cùng của cửu cung.
Tên khác: Sơn đỉnh Tướng · Tướng lên đỉnh
Xe đứng ngay sát Tướng nhà. Vừa che chắn cho Tướng, vừa sẵn sàng bung ra theo trục dọc.
Tên khác: Tiếp thân xa
Xe ở lộ 1 hoặc lộ 9. Ít bị chắn nên ra quân nhanh, nhưng đứng ngoài cùng thì khó tham gia vào cuộc chiến ở trung lộ.
Xe ở vị trí thoáng, đường đi rộng, có thể tham chiến ngay.
Tên khác: Cao đầu xa
Xe ở vị trí bí, còn bị chặn nên phải đi thêm ít nhất một nước nữa mới tham chiến được.
Tên khác: Đê đầu xa · Ám xa
Xe đứng trên sông bên mình, ngay phía trên Tượng nhà — Tượng làm chỗ dựa cho Xe.
Xe đứng trên đường tốt — tuyến ngang thứ tư tính từ phía mình.
Xe chiếm một trong bốn góc cung Tướng — vị trí ép sát, thường mở đầu cho đòn chiếu bí.
Tên khác: Xe sĩ giác
Xe chiếm ngay tâm cung đối phương. Thế rất hiểm nhưng cũng liều, vì Xe đứng giữa cung địch dễ bị vây.
Xe vượt sang bờ sông bên đối phương, thường để bắt Tốt và phong toả tuyến đầu của địch.
Tên khác: Kỵ hà xa
Xe chiếm đúng ô xuất phát của Tướng đối phương.
Xe chiếm lộ 4 hoặc lộ 6 — trực chỉ cung Tướng theo đường sườn, một trong những thế Xe mạnh nhất khi tấn công.
Tên khác: Lặc xa
Xe bị ghim chặt, không rời chỗ được vì đi là mất quân hoặc thua thế.
Xe xuống hàng đáy của đối phương, cắt đường ngang của Tướng địch và uy hiếp Sĩ Tượng từ phía sau.
Tên khác: Trầm để xa · Xe xuống đáy
Hai Xe cùng một bên đứng trên một hàng ngang, giữa không có quân nào chắn.
Tên khác: Đồng tuyến xa · Bá vương xa
Xe đứng trên bờ sông bên mình. Nước đi vững chắc quen thuộc: khống chế ngang bờ sông mà chưa để lộ sơ hở.
Tên khác: Tuần hà xa
Mã đi xuyên từ bên này sang bên kia cửu cung. Trong khai cuộc thường chỉ lối Mã từ hàng đáy băng qua trung lộ để lên góc Sĩ.
Nước gỡ thế đang bị chiếu — ăn quân chiếu, chắn đường chiếu, hoặc chạy Tướng.
Tên khác: Ứng chiếu · Đỡ chiếu
Giành lại quyền chủ động từ tay đối phương sau khi đã ở thế bị động.
Đánh mất quyền chủ động — thường vì một nước đi chậm hoặc một nước phòng thủ không cần thiết.
Tên khác: Mất tiên
Giành quyền chủ động — đi những nước buộc đối phương phải đáp lại, để mình quyết định nhịp ván cờ.
Chiếu Tướng liên tục lặp đi lặp lại thành vòng. Luật thi đấu hạn chế hành vi này; bên chiếu dai bị xử thua nếu không đổi nước.
Tên khác: Chiếu lặp · Chiếu dai